THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ NƯỚC CỘNG HÒA THỐNG NHẤT TAN-DA-NI-A VÀ QUAN HỆ VỚI VIỆT NAM

 

1. Khái quát:

Cộng hoà Thống nhất Tan-da-ni-a (Tanzania) ở phía đông châu Phi, bao gồm phần lục địa và một số đảo, trong đó, quan trọng nhất là ba đảo Zanzibar, Pemba và Mafia. Tanzania có đường biên giới chung với Kenya, Uganda, Rwanda, Bu-run-đi, Dai-a, Dăm-bi-a, Ma-la-wi và Mô-dăm-bích, phía đông nhìn ra Ấn Độ Dương. Tanzania là hợp nhất của nước Cộng hoà Tanganyika với nước Cộng hoà Zanzibar:

Anh dai dien Tanzania.jpg

- Diện tích: 945.087 km2 (trong đó có 886.037 km2 đất liền)

- Dân số: 50,1 triệu người (2016).

- Thủ đô: Dodoma

- Khí hậu: Thay đổi theo vùng, vùng biển khí hậu nhiệt đới, vùng cao khí hậu    nóng.

- Ngôn ngữ : Kiswahili hay Swahili, Kiunguju, Arabic, tiếng Anh ngoài ra còn một số thổ ngữ khác.

- Tôn giáo: Đạo Thiên chúa (30%), Hindu (1%), Đạo Hồi (33%) và các tín ngưỡng cổ truyền.

- Tiền tệ : Đồng Shilling Tanzania

- Đảng cầm quyền: Đảng Cách mạng Tanzania Chama Cha Mapinduzi (CCM-the Revolutionary Party of Tanzania).

- Tổng thống : Pombe Joseph  Magufuli (nhiệm kỳ: 2015 - 2020)

- Thủ tướng : Kassim Majaliwa Majaliwa (nhiệm kỳ: 2015 - 2020)

- Ngoại trưởng : Augustine Philip Mahiga

- Ngày Quốc Khánh: 09/12 (1961)

- Ngày Thống Nhất: 26/4 (1964)

2. Lịch sử:

- Tanganyika: bị thương nhân Ả-rập xâm chiếm những năm 700 trước Công nguyên. Từ năm 1500 đến năm 1700, Bồ Đào Nha giành quyền kiểm soát ven biển của Tanganyika. Đến năm 1886, Tanganyika (cùng Burundi và Rwanda) trở thành thuộc địa của Đức ở Đông Phi.

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Tanganyika bị đế quốc Anh thống trị. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Tanganyika lại bị Anh tiếp tục cai trị. Nhưng do phong trào đấu tranh của nhân dân, ngày 9/12/1961, thực dân Anh buộc phải trao trả độc lập cho Tanganyika.

- Zanzibar: bị người Arập xâm chiếm từ thế kỷ thứ 12 trở về trước. Đến thế kỷ thứ 15, Bồ Đào Nha chiếm Zanzibar và biến nơi này thành trạm giao thương ở khu vục này. Vào thế kỷ 19, người Arập (Oman) hất chân thực dân Bồ Đào Nha  khỏi Zanzibar và đặt ách thống trị ở đây. Năm 1861, Zanzibar lại rơi vào tay Đức và Italia suốt nửa thế kỷ. Đến năm 1890, Zanzibar bị đặt dưới sự bảo trợ của đế quốc Anh. Tháng 12/1963, Anh buộc phải trao trả độc lập cho Zanzibar, nhưng chính quyền vẫn nằm trong tay giới tư bản, địa chủ Arập.

Ngày 12/01/1964, Zanzibar tiến hành cách mạng lật đổ bọn tư bản địa chủ, địa chủ Arập và lập nên nước Cộng hoà nhân dân Zanzibar (do những người gốc Phi có xu hướng mác-xít lãnh đạo quần chúng làm cách mạng).

- Nước Cộng hoà Thống nhất Tanzania được thành lập trên cơ sở hợp nhất Cộng hoà Tanganyika và Cộng hoà Zanzibar ngày 26/4/1964

3. Chính trị:

Theo Hiến pháp 1965, quyền lực chính quyền được tập trung vào tay Tổng thống - được bầu trực tiếp cho nhiệm kỳ 5 năm. Tổng thống sẽ chỉ định Phó Tổng thống và Thủ tướng của Chính phủ hợp nhất. Quyền lập pháp được tập trung vào Quốc hội - có nhiệm kỳ năm năm và gồm có 324 đại biểu được bầu trực tiếp cùng một số đại biểu được bầu gián tiếp.

Tuy nhiên, dưới sức ép của các lực lượng chính trị, tháng 2/1992, Đảng Cách mạng Tanzania (CCM) đã nhất trí tán thành hệ thống chính trị đa đảng và thông qua đạo luật cho phép các chính đảng đối lập hoạt động ngày 17/6/1992.

Nội bộ Tanzania ổn định nhưng vẫn tồn tại mâu thuẫn về quyền lực giữa các bộ tộc, phe phái cũng như giữa Tanganyika và Zanzibar (có Chính phủ và Tổng thống riêng).

Tháng 10/2015, ông John Pombe Joseph Magufuli (ứng cử viên Đảng CCM) trúng cử Tổng thống và nhậm chức ngày 5/11/ 2015.

4. Kinh tế:

Nền kinh tế Tanzania có nhiều chuyển biến tích cực, tăng trưởng GDP từ năm 2009 đến 2016 đạt  6-7%. Kinh tế phụ thuộc vào nông nghiệp: sản phẩm nông nghiệp chiếm ¼ GDP, 85% giá trị xuất khẩu, thu hút 80% lực lượng lao động; trong khi đó nông nghiệp chỉ chiếm 7% chi tiêu của chính phủ.

Nông sản xuất khẩu chủ yếu của Tanzania là hạt điều, cà phê Arabica, bông, đinh hương, cùi dừa, thuốc lá, mía.... Lĩnh vực chế biến nông sản còn non trẻ. Ngành nuôi trồng hải sản và thủy sản cũng là một lĩnh vực giàu tiềm năng của Tanzania nhưng kỹ thuật còn thủ công nên chưa phát huy được hết tiềm năng.

Tanzania nhập khẩu chủ yếu là hàng tiêu dùng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, quần áo, hóa chất, dược phẩm... Đặc biệt Tanzania có nhu cầu nhập khẩu gạo với số lượng lớn.

Hiện tại, Tanzania đã hoàn thành việc chuyển đổi sang nền kinh thế thị trường, mặc dù chính quyền còn tham gia kiểm soát một số ngành như viễn thông, ngân hàng, năng lượng và khai khoáng.

Trong những năm gần đây bên cạnh các hoạt động cải cách kinh tế, thực hiện chính sách tự do hóa thương mại, đặc biệt là khuyến khích phát triển kinh tế khu vực tư nhân, môi trường đầu tư ở Tanzania đã có nhiều cải thiện khá tích cực. Chính phủ Tanzania đang cố gắng thu hút các nhà đầu tư nước ngoài bằng cách giảm bớt thủ tục hành chính quan liêu trong việc cấp giấy phép đầu tư. Nhờ vậy Tanzania thu hút đầu tư khá nhanh và đa dạng từ các nhà đầu tư truyền thống của Tanzania như Anh, Mỹ, Nam Phi cho đến các nhà đầu tư mới như Trung quốc, Việt Nam.

Hiện nay, Tanzania chủ trương phát triển công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế tạo nhằm sử dụng nguyên liệu tại chỗ và giải quyết công ăn việc làm cho người dân Tanzania. Ngoài ra, Tanzania cũng đang có chính sách đặt trọng tâm thu hút du lịch để tận dụng lợi thế thiên nhiên hoang dã, nhiều điểm du lịch hấp dẫn (đỉnh núi Kilimanjaro cao nhất châu Phi, hồ Victoria lớn nhất châu Phi, các công viên quốc gia nổi tiếng thế giới…). Năm 2014, Tanzania thu 2 tỉ USD từ du lịch (25% ngoại tệ cho đất nước), đóng góp 17% GDP, sử dụng trực tiếp 600.000 lao động và gián tiếp 2 triệu lao động.

Với kế hoạch "Tầm nhìn 2025"  nhằm cải thiện mức sống người dân, Tanzania đang kiện toàn hệ thống luật pháp, tăng tính hiệu quả của bộ máy lãnh đạo, tạo ra một nền kinh tế mạnh mẽ đầy tính cạnh tranh hướng ra xuất khẩu, nhằm giảm sự phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài.

Thực hiện tầm nhìn 2025, Tanzania đang triển khai một số dự án lớn như mở rộng quy mô cảng cửa ngõ Dar Es Salaam, mở rộng Sân bay Quốc tế Nyerere, xây dựng hê thống đường ống dẫn dầu giữa Tanzania - Uganda, Dự án đường sắt Dar es Salaam - Mwanza…

- GDP bình quân đầu người: 768 USD (2016)

- GDP : $46,7 tỷ US$ (2016)

- Tăng trưởng kinh tế : 7 % (2016)

Xuất khẩu : vàng, cà phê, hạt điều, bông...

+ Bạn hàng chính: Trung Quốc, Anh, Pháp, Nhật, Ấn Độ, Hà lan, Kenya…

Nhập khẩu: hàng tiêu dùng, máy móc và thiết bị vận tải, nguyên liệu, dầu thô...

+ Bạn hàng: Nam Phi, Nhật, Ấn Độ, UAE, Kenya, Mỹ, Trung Quốc, Úc, Bahrain, Anh...

5. Đối ngoại:

Tanzania tuyên bố thực hiện chính sách không liên kết, sẵn sàng hợp tác với tất cả các nước, chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, ủng hộ các phong trào giải phóng dân tộc.

Tanzania là thành viên của Tổ chức Thống nhất châu Phi (OUA), của LHQ và Phong trào Không liên kết. Tanzania có vai trò quan trọng trong việc duy trì đoàn kết châu Phi, là thành viên tích cực của Cộng đồng Đông Phi (EAC).

Tanzania có quan hệ tốt và nhận nhiều viện trợ của các nước phương Tây, Mỹ  và Trung quốc, đồng thời cũng có nhiều nỗ lực góp phần giải quyết xung đột tại khu vực.

6. Quan hệ Tanzania - Việt Nam:

Việt Nam và Tanzania thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 14/2/1965 và Việt Nam mở Cơ quan đại diện ở Dar Es Salaam  tháng 10/1966. Việt Nam đóng cửa Đại sứ quán năm 1984 do khó khăn về kinh tế và mở lại Đại sứ quán tại Dar Es Salaam tháng 11/2003. Lãnh đạo Tanzania coi Việt Nam là tấm gương đấu tranh chống xâm lược đối với các dân tộc bị áp bức, đặc biệt là các nước châu Phi.

Trong những năm qua, hai bên đã cử nhiều đoàn sang thăm và học hỏi kinh nghiệm của nhau:

(a) Phía Việt Nam có: Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình (1970), Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam Nguyễn Hữu Thọ (1973), Bộ trưởng Võ Đông Giang (1982), Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Phú Bình (9/2001), Thứ trưởng Thương mại Lê Danh Vĩnh (3/2002); Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Phương Nga (5/2014); Bộ trưởng Thông tin - Truyền thông Nguyễn Bắc Son (2015); Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm Tanzania (3/2016).

(b) Phía Tanzania có: Nguyên Tổng thống J. Nyeree vào Việt Nam dự Hội nghị về hợp tác Nam – Nam với tư cách là Chủ tịch Phương Nam (1994), Ngoại trưởng Tanzania Jakaya Kikwete (5/2001), Bộ trưởng Công nghiệp và Thương mại (11/2004), Tổng thống Benjamin W.Mkapa (12/2004), Thủ tướng Edward Lowassa (9/2006). Tổng thống Jakaya Mrisho Kikwete (5/2014).

Để tạo hành lang pháp lý cho việc hợp tác, hai bên đã ký các Hiệp định, Thỏa thuận: Hiệp định khung về hợp tác kinh tế, thương mại, khoa học và công nghệ và Thỏa thuận thành lập Ủy ban hỗn hợp giữa Chính phủ Tanzania và Việt Nam (12/2004); Thỏa thuận hợp tác giữa 2 Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và Phòng thương mại, Công nghiệp và Nông nghiệp Tanzania (9/2006).

Trong chuyến thăm cấp Nhà nước của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tới Cộng hòa Thống nhất Tanzania tháng 3/2016, lãnh đạo hai nước thống nhất mở rộng quan hệ song phương và tìm kiếm các lĩnh vực hợp tác mới trong thương mại và đầu tư, giáo dục, khoa học và công nghệ, sản xuất và chế biến lương thực, thực phẩm (hạt điều, sữa…), thức ăn chăn nuôi, nuôi trồng thủy hải sản, sản xuất hàng may mặc, da giày, sản xuất máy nông cụ, sản xuất xi măng, xây dựng nhà ở giá rẻ và hóa dầu.

Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Tanzania đạt 203. 438 triệu USD (2015). Việt Nam nhập khẩu hạt điều thô, bông, gỗ... với 64.186 triệu USD (2015) và xuất khẩu sang Tanzania đạt 139.270 triệu USD chủ yếu là gạo, hàng dệt may, cao su, thiết bị điện... (2015).

Các công ty Tanzania nhập gạo và hàng tiêu dùng của Việt Nam đều đánh giá hàng Việt Nam chất lượng tốt, giá cả phải chăng.

 

Đại sứ quán Tanzania tại Bắc Kinh (kiêm nhiệm Việt Nam)

Địa chỉ: No.8, Liang Ma He Nan Lu, San Li Tun, Bắc Kinh

Điện thoại: 65321491/65321408

Fax: 65324351/65321695

Email: tzrepbj@tan.com.cn

 

Đại sứ quán Việt Nam tại Tanzania

Địa chỉ: Plot 15, Bongoyo Road, Oysterbay, Dar Es Salaam, Tanzania.

Hòm thư: PO Box  9724,  Dar Es Salaam.

Điện thoại: (+255) 222664535; SĐT bảo hộ công dân: (+255) 622848484

Fax: (+255) 222664537;  Email: vnemb.tz@mofa.gov.vn

​ 

  ​​  ​​​​​​​​​​​​​   ​​​